Sản xuất nước ngoài chủ yếu là polyetylen (PE), sản xuất trong nước chủ yếu là polypropylen (PP), là một loại nhựa nhiệt dẻo được sản xuất bằng cách trùng hợp etylen. Trong công nghiệp, nó cũng bao gồm các copolyme của etylen với một lượng nhỏ α-olefin. Polyetylen không mùi, không độc hại, cảm giác như sáp, có khả năng chịu nhiệt độ thấp tuyệt vời (nhiệt độ sử dụng thấp nhất có thể lên đến -70 ~ -100℃), độ ổn định hóa học tốt, có thể chịu được hầu hết sự ăn mòn của axit và kiềm (không bị oxy hóa bởi axit), không tan trong các dung môi thông thường ở nhiệt độ phòng, độ hấp thụ nước thấp, hiệu suất cách điện tuyệt vời; Tuy nhiên, polyetylen nhạy cảm với các tác động của môi trường (tác động hóa học và cơ học) và có khả năng chống lão hóa nhiệt kém. Tính chất của polyetylen thay đổi tùy theo từng loại, chủ yếu phụ thuộc vào cấu trúc phân tử và mật độ. Các sản phẩm có mật độ khác nhau (0,91 ~ 0,96g/cm3) có thể thu được bằng cách sử dụng các phương pháp sản xuất khác nhau. Polyetylen có thể được gia công bằng phương pháp đúc nhiệt dẻo thông thường (xem gia công nhựa). Polyethylene được sử dụng rộng rãi trong sản xuất màng phim, bao bì, ống dẫn, dây đơn, dây cáp, đồ dùng hàng ngày, v.v., và có thể được sử dụng làm vật liệu cách điện tần số cao cho TV, radar, v.v. Với sự phát triển của ngành công nghiệp hóa dầu, sản xuất polyethylene đã phát triển nhanh chóng, chiếm khoảng 1/4 tổng sản lượng nhựa. Năm 1983, tổng công suất sản xuất polyethylene là 24,65 triệu tấn, và công suất nhà máy đang xây dựng là 3,16 triệu tấn.
Polypropylene (PP)
Nhựa nhiệt dẻo được điều chế bằng cách trùng hợp propylen. Có ba dạng sản phẩm: đồng trùng hợp, không đồng trùng hợp và trùng hợp xen kẽ, trong đó sản phẩm đồng trùng hợp là thành phần chính của các sản phẩm công nghiệp. Polypropylen cũng bao gồm các copolyme của propylen và một lượng nhỏ etylen. Thường là chất rắn trong suốt, không màu, không mùi và không độc hại. Do cấu trúc gọn gàng và kết tinh cao, nên điểm nóng chảy lên đến 167℃, khả năng chịu nhiệt, sản phẩm có thể sử dụng phương pháp khử trùng bằng hơi nước là những ưu điểm nổi bật. Với mật độ 0,90g/cm3, nó là loại nhựa đa dụng nhẹ nhất. Khả năng chống ăn mòn, độ bền kéo 30MPa, độ bền, độ cứng và độ trong suốt tốt hơn polyetylen. Nhược điểm là khả năng chịu va đập ở nhiệt độ thấp và dễ bị lão hóa, có thể khắc phục bằng cách cải tiến và bổ sung chất chống oxy hóa.
Túi dệt thường có màu trắng hoặc trắng xám, không độc hại và không mùi, nhìn chung ít gây hại cho cơ thể người, mặc dù được làm từ nhiều loại nhựa hóa học, nhưng khả năng bảo vệ môi trường và khả năng tái chế cao hơn;
Túi dệt được sử dụng rộng rãi, chủ yếu dùng để đóng gói và bao bì các loại hàng hóa khác nhau, được sử dụng phổ biến trong công nghiệp;
Túi dệt bằng nhựa được làm từ nhựa polypropylene làm nguyên liệu chính, được ép đùn và kéo giãn thành dạng tấm mỏng, sau đó dệt và tạo thành túi.
Túi dệt composite làm từ vải dệt nhựa, được sản xuất bằng phương pháp cán.
Dòng sản phẩm này được sử dụng để đóng gói bột hoặc vật liệu rắn dạng hạt và các vật phẩm mềm dẻo. Túi dệt nhựa composite được chia thành túi hai trong một và túi ba trong một dựa theo thành phần vật liệu chính.
Theo phương pháp may, có thể chia thành các loại: túi đáy may, túi đáy may, túi chèn và túi may dán.
Theo chiều rộng thực tế của túi, có thể chia thành các loại 350, 450, 500, 550, 600, 650 và 700mm. Các thông số kỹ thuật đặc biệt sẽ được hai bên thỏa thuận.
Thời gian đăng bài: 28/09/2020

